
Trong kho tàng câu đối Việt Nam còn lưu truyền đến ngày nay, có nhiều câu đối đặc sắc thể hiện tài trí, bản lĩnh của con người. Trong các lễ, hội hoặc khi khánh thành các nhà thờ, đình, chùa, miếu..., người ta thường làm câu đối.
Đặc biệt là mỗi khi tết đến xuân về. Thế nào là một câu đối và câu đối phải có những yếu tố gì?
Theo từ điển Tiếng Việt thì “Câu đối là thể văn gồm hai vế câu có số lượng từ bằng nhau và đối chọi nhau về cả lời lẫn ý”. Như vậy, đối là đặt hai vế của một câu đứng song đôi cho các thanh, từ và ý trong hai vế ấy cân xứng với nhau từng đôi một. Có 3 yếu tố phải đối là: đối thanh, đối từ và đối ý. Trong đối thanh thì bằng phải đối với trắc và ngược lại. Trong đối từ có danh từ, động từ, tính từ, từ đơn, từ ghép, từ láy, từ Hán, từ Nôm, từ đồng âm, đồng nghĩa, từ đồng âm dị nghĩa... Trong đối ý có đối xứng và đối lập.
Xin không đi sâu phân tích vấn đề này mà chỉ nêu ra một số câu đối để bạn đọc cùng tham khảo:
Vợ cả vợ hai, hai vợ đều là vợ cả
Con nuôi con đẻ, đẻ con há cậy con nuôi.
Trong vế xuất có 4 từ “vợ”, 2 từ “cả” và 2 từ “hai”. Như vậy trong vế này có 3 nhóm từ đồng âm, một nhóm 4 từ và hai nhóm mỗi nhóm 2 từ. Nhóm từ đồng âm “vợ” là từ đồng âm, đồng nghĩa, nhưng nhóm từ “cả” và nhóm từ “hai” mỗi nhóm là hai từ đồng âm dị nghĩa.
Trong vế đối cũng có 3 nhóm từ đồng âm, một nhóm gồm 4 từ “con” là từ đồng âm đồng nghĩa, nhóm 2 từ “nuôi” và nhóm hai từ “đẻ” là từ đồng âm nhưng khác từ loại. Như vậy trong mỗi vế có 10 từ, nhưng số từ đồng âm đống nghĩa và từ đồng âm dị nghĩa hay khác từ loại chiếm tám phần mười (8/10) trên tổng số từ của mỗi vế. Hoặc đọc một câu đối khác:
Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa
Thầy lang băm thầy lang băm, thầy lang băm hăm băm thầy lang
Trong mỗi vế của câu đối trên, số lượng từ đồng âm đồng nghĩa và từ đồng âm dị nghĩa còn cao hơn. Đọc hai câu đối trên đây, không một ai trong chúng ta không thán phục, dùng điệp ngữ đến dày đặc như thế mà lời văn hết sức trôi chảy, không hề có chút sượng sùng nào thì thật kỳ tài.
Vào thế kỷ 14 đời nhà Trần có Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang nhà Nguyên, vì đối đáp giỏi, tài trí tuyệt vời nên được vua Nguyên phong là “Lưỡng quốc trạng nguyên”. Một lần trời mưa, đến yết kiến vua Nguyên chậm, viên quan coi cửa bắt ông phải đối được mới cho vào. Vế xuất như sau:
Quá quan tri, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan
(Qua cửa quan chậm, quan coi cửa đóng cửa, mong khách đi qua qua cửa)
Vế ra có đến 4 chữ “quan” (lại là từ đồng âm) và 3 chữ “quá” thật là hiểm hóc và khó đối. Thế nhưng Mạc Đĩnh Chi đã ứng khẩu luôn:
Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối
(Ra vế đối trước thì dễ nhưng đối lại vế đối đó mới khó. Xin nhường tiên sinh đối trước)
Viên quan coi cửa phục tài trí của ông đành mở cửa cho vào.
Một lần vua Minh Mạng đến thăm chùa Non Nước (Ngũ Hành Sơn – Đà Nẵng). Trong đoàn tùy tùng có Trương Đăng Quế là một đình thần hay chữ. Thấy cảnh ở đây rất đẹp, vua ra vế xuất:
Chùa Non Nước trên non dưới nước, nước non về một đấng quân vương
Trương Đăng Quế đối lại:
Cửa Thuận An trong thuận ngoài an, an thuận khắp bốn phương thiên hạ
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945) ở Sơn Tịnh – Quảng Ngãi có một Chủ nhiệm Việt minh sống liêm khiết nên gia cảnh vẫn nghèo khó. Một hôm, ông nhận được thiệp của người bạn mời đến dự tiệc. Sau nhiều ngày suy nghĩ, ông làm câu đối:
Có tới có hơn, hơn tới có
Không đi không phải, phải đi không
Còn có một số câu đối khác chúng tôi xin trích dẫn ra đây để bạn đọc cùng thưởng thức:
- Ruồi đậu mâm xôi đậu
Kiến bò đĩa thịt bò
- Kiến đậu cành cam, bò quấn quýt
Ngựa về làng bưởi, chạy lanh chanh
- Cây xương rồng, trồng đất rắn, long vẫn hoàn long
Quả dưa chuột, tuột thẳng gang, thử chơi thì thử.
- Học trò là học trò con, thích chạy lon ton là con học trò
Quan huyện là quan huyện thằng, xử kiện lằng nhằng là thằng quan huyện
- Đá xanh xây cống, hòn dưới nống hòn trên
Ngói đỏ lợp nhà, lớp sau đè lớp trước
- Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương bồng quỷ tới
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở tung ra cho thiếu nữ rước xuân vào
Ngày xuân, xem lại câu đối xưa ta mới thấy vốn hiểu biết sâu rộng, sự thông minh nhanh trí, khẩu khí chí hướng của cha ông.
Theo Báo Thanh Hóa
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét