(THO) - Cuộc sống có rất nhiều thú chơi, song không phải thú chơi nào cũng được chọn chơi trong dịp Tết. Một trong những thú chơi tao nhã thường được dành chơi trong dịp Tết ấy là thú chơi chữ đẹp.
Mỗi năm hoa đào nở
Bày mực tàu giấy đỏ
Trên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo từng nét
Như phượng múa rồng bay...
(Ông Đồ - Vũ Đình Liên)
Bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên không chỉ là niềm bâng khuâng nuối tiếc cho một nền Hán văn đã hết vai trò lịch sử, mà còn diễn tả tâm trạng hoài niệm về một thú chơi thanh cao, ấy là thú chơi chữ.
Thú chơi chữ đẹp còn gọi là nghệ thuật thư pháp. Thư pháp có nghĩa gốc là “phép” viết chữ, cách viết chữ. Người xưa dùng chữ Hán, thứ chữ tượng hình, viết bằng bút lông, mực tàu. Những người có “hoa tay” đưa nét chữ như rồng bay phượng múa, được người đời chiêm ngưỡng như những bức họa đẹp. Vì thế mà có thú chơi chữ đẹp.
Tuy nhiên, thư pháp không đơn giản với cách hiểu là phép viết chữ sao cho đẹp, trong hàm nghĩa sâu xa, thư pháp còn là phương tiện biểu hiện cái tâm, cái chí, cái khí, lực của người dụng bút. Ở Trung Quốc từng truyền tụng câu chuyện về một bức “Hành thư” nổi tiếng treo ở hải môn quan. Chỉ có ba chữ nhưng người viết tuy là bậc thầy về thư pháp vẫn phải chuẩn bị trong một năm (ba tháng luyện kiếm, ba tháng đọc sách, ngâm thơ, ba tháng luyện đàn và ba tháng ngồi thiền). Vậy là trong thư pháp vừa có sự cứng cỏi, khí phách, vừa có sự mềm mại tinh tế, vừa có tư tưởng thâm sâu. Vương Hy Chi (321-379) ông tổ của nghệ thuật thư pháp từng tri ngộ về nghệ thuật này: “Mỗi nét ngang là một đám mây trong một thế trận, mỗi nét móc là một cây cung giương lên, có sức mạnh khác thường, mỗi nét chấm là một tảng đá rơi xuống từ đỉnh núi cao, mỗi nét phẩy là một cái móc bằng đồng, mỗi nét sổ dài là một thân cây cổ kính, mỗi nét phóng khoáng mảnh mai là một lực sĩ chạy thi ở tư thế sẵn sàng lao lên phía trước”. Không phải ngẫu nhiên, trong quan niệm người xưa thư pháp còn được coi là Đạo: “Học tập thư pháp khả dĩ tu thân, dưỡng tính, đào dã tâm tình” (rèn luyện thư pháp có thể sửa mình, dưỡng tính và uốn nắn tình cảm).
Một ý tưởng thâm sâu hoặc một bài văn, bài thơ thông qua nghệ thuật thư pháp sẽ được thăng hoa, được chắp thêm cánh với những giá trị tinh thần bay bổng. Đấy không còn là con chữ khô cứng mà là sự sống đang phập phồng hơi thở. Những nét bút tài hoa có thể đưa tâm hồn người thưởng ngoạn cùng bay bổng tuyệt vời với tác giả, phát sinh những rung động nghệ thuật, những tình cảm, tư tưởng cao đẹp. Một bức thư pháp xuất thần có sức mạnh như “bùa chú”, ma lực. Những thiên “kỳ thư” lừng lẫy được coi trọng không khác gì bảo vật. Tương truyền, Thái Ung đời Hán viết thiên Bút pháp, đến đời Tấn, Vĩ Đản sưu tầm được, Chung Phủ cầu xin mãi không xong, uất ức sinh trọng bệnh hôn mê, vua Ngụy Thái tổ ban cho Ngũ linh đan mới cứu tỉnh. Vĩ Đản mất, trối lại người nhà phải chôn thiên ấy như vật tùy táng. Lan Đình ký mặc tích của Vương Hy Chi được các đời vua Trung Quốc coi như báu vật. Sự cao quý của nghệ thuật thư pháp cũng đã được Nguyễn Tuân thể hiện trong thiên truyện nổi tiếng Chữ người tử tù. Viên quan coi ngục vì kính trọng và khát khao xin được chữ của Huấn Cao để đem treo trong nhà mà bất chấp nguy hiểm đến tính mạng. Trước đời Đường, thư pháp được coi như một nghệ thuật cao hơn hội họa, một công phu của bậc thượng lưu, trí giả. Hội họa thời đó chỉ được xếp vào hàng kỹ thuật, một tiện nghệ hơn là một thú thanh cao.
Để trở thành một “Thư gia” và để có những thiên thư pháp để đời phải mất nhiều công khổ luyện. Vương Hy Chi phải trải qua 15 năm chuyên tâm rèn luyện thư pháp. Đời Tùy, nhà sư Thích Trí Vĩnh (tục gọi là Vĩnh Thiền Sư) cháu 7 đời của Vương Hy Chi, trụ trì ở chùa Vĩnh Hân, lên chùa rồi không xuống, ở đó suốt 40 năm để luyện thư pháp (đăng lâu bất hạ tú thập niên). Trương Chi đời nhà Hán mỗi lần tập viết xong thì đem rửa bút ở ao, lâu ngày nước đen như mực (lâm trì học thư, trì thủy tận mạc). Từ đó mới có thuật ngữ “lâm trì”, chỉ sự khổ luyện trong viết chữ. Vua Đường Thái tông (Lý Thế Dân) lúc rỗi, tay không viết chữ trong không khí (trừu không luyện tự). Nửa đêm tốc dậy, đốt đuốc luyện Lan đình ký (dạ bán khởi bá chúc học Lan Đình ký). Nói điều này để thấy sự cao quý và tao nhã của nghệ thuật thư pháp.
Hai trung tâm của nghệ thuật thư pháp là Trung Hoa và các nước Ả Rập. Tuy nhiên, thư pháp Trung Hoa dường như nổi tiếng và phổ biến hơn. Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nên đều có nghệ thuật thư pháp. Song đến mỗi nước, từ sự tiếp biến văn hóa nên thư pháp đã có đời sống tinh thần riêng. Người Nhật coi thư pháp là thư đạo (Shodo). Người Hàn Quốc coi thư pháp là thư nghệ. Thư pháp của Việt Nam có thêm sắc thái tâm linh. Phong tục xin chữ đầu xuân của người Việt vừa mang sắc thái văn hóa vừa có sắc thái tâm linh. Xin được chữ tốt đem treo trong nhà, gia chủ tin tưởng hy vọng vào một năm mới tốt lành, may mắn.
Do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, nghệ thuật thư pháp của Việt Nam cũng xuất hiện sớm. Tuy nhiên, theo quan niệm của người Việt, khoa cử để hướng tới mục đích làm quan, cho rằng đó là nghề “hoa văn” của bọn thư lại nên ít người rèn luyện thư pháp. Phạm Đình Hổ đã có lần than thở: “Nước ta có tiếng là văn hiến sánh ngang nước Trung Hoa, thế mà về một việc viết chữ lại cho là việc của kẻ thơ lại, không ai thèm lưu ý học đến, không biết tại sao?”. Song, họ Phạm cũng khen ngợi Hoàng Hi Đỗ, một nhà thư pháp cùng thời với mình: “Ông lúc nhỏ viết lối hành thảo rất tốt, bắt chước được lối chữ của Mễ Nam Cung, Đổng Kì Xương, hễ cầm bút lên thì rụt rè như thể không viết được, nhưng lúc đã đặt bút xuống giấy thì nét chữ tươi tắn, có cái ý nhị của hoa đào đọng giọt mưa bụi, là sương phủ làn khói nhẹ”. Người nổi tiếng hay chữ của nước ta có lẽ là Chu Thần Cao Bá Quát mà tài và chữ thể hiện ở đôi câu đối lừng danh:
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
(Mười năm giao thiệp tìm gươm báu
Một đời chỉ cúi trước hoa mai)
Chu Thần chính là nguyên mẫu của Huấn Cao trong thiên truyện Chữ người tử tù nổi tiếng của Nguyễn Tuân.
Thư pháp Việt ngày xưa chủ yếu tồn tại trong dân gian, được dùng để viết câu đối, đại tự hay được truyền tụng qua tục “xin chữ” và “cho chữ” ngày Tết, đến thời văn minh đô thị thì thành tục “thuê viết” như Vũ Đình Liên đã mô tả. Thú chơi Thư pháp tưởng chỉ là thú chơi của những bậc tao nhân mặc khách thường diễn ra ở chốn thư phòng đài các với “văn phòng tứ bảo” và đồng triện. Đến Việt Nam, thư pháp diễn ra trong một không gian bình dân: ở chợ, thường là chợ Tết hoặc trên phố, cũng thường là phố trong dịp Tết “trên phố đông người qua”. Người cho chữ thường là các thầy đồ nho. Đối với người dân quê ít học, xin được chữ thánh hiền đem treo trong dịp Tết là niềm hạnh phúc thiêng liêng. Cái Tết phải có đủ những thứ này “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ/ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”, nghĩa là cả vật chất và tinh thần mới viên mãn tròn đầy.
Khi chữ La tinh thay thế cho Hán tự và phong trào bài trừ chữ Hán, thú chơi thư pháp bị ngắt quãng mất mấy chục năm. Song, âm thầm trong mạch ngầm văn hóa dân tộc, thú chơi tao nhã này vẫn được lưu giữ bởi những nhân cách văn hóa và điều kỳ diệu nhất là chính người Việt đã tiếp thêm sức sống mạnh mẽ cho nghệ thuật thư pháp bằng chính ngôn ngữ La tinh thuần Việt. Thư pháp chữ Việt được bắt đầu khoảng mấy chục năm gần đây. Đó là sáng tạo từ sự mách bảo nguồn cội, là sự nối tiếp và kế thừa của thư pháp truyền thống. Thư pháp chữ Việt hình thức trình bày, bố cục vẫn tương tự như thư pháp chữ Hán. “Văn phòng tứ bảo” (bút lông, mực tàu, nghiên mực, giấy) vẫn là công cụ chính, nội dung ý tưởng vẫn xoay quanh tư tưởng đạo đức nhân văn, coi trọng tư cách, phẩm hạnh, đề cao nhân nghĩa, lễ, trí, tín... Năm kiểu viết cơ bản của thư pháp chữ Việt hiện nay, như: chữ mô phỏng, chữ mộc bản, chữ chân phương, chữ cách điệu, chữ cá biệt (cuồng thảo) vẫn dựa trên tinh thần của năm kiểu trong thư pháp chữ Hán: Triện thư, lệ thư, khải thư, hành thư và thảo thư. Song, trên cái nền truyền thống đã có những đột phá mới. Một trong những đột phá ấy phải kể đến sự kết hợp giữa thư pháp và hội họa gọi là thư họa. Người xưa cũng đã có “thư họa” song sự kết hợp của người xưa là sự cộng ghép để minh họa cho nhau, “thư họa” hiện đại trộn lẫn vào nhau rất độc đáo và điệu nghệ. Chẳng hạn bức thư họa chữ “Mẹ” của tác giả Chính Văn: Người mẹ với cánh tay dài của tình mẫu tử đang ôm ấp, bồng con và đứa trẻ với tư thế trong bào thai cuộn tròn trong lòng mẹ. Đó là bức tranh bằng nghệ thuật thư pháp hay bức thư pháp bằng tranh? Khó mà tách bạch. Có thể nói, thư pháp Việt hiện đại đã tạo nên sức sống mới cho nghệ thuật thư pháp.
Người chơi thư pháp giờ đây rất rộng rãi. Những bậc cao niên tìm về lối thư pháp xưa, nam thanh nữ tú thích thú với những bài thơ, câu thơ được viết theo kiểu “cuồng thảo” bay bổng. Các kiểu chữ đều có biểu cảm riêng, xuất phát từ nhu cầu, sở thích, tính cách, tâm tình của người chơi. Nhìn chung, thư pháp chữ Việt là sự kết hợp giữa cái thần của chữ Hán và nét chữ quốc ngữ, là sự giao hòa giữa văn hóa Đông – Tây qua lăng kính sáng tạo của tâm hồn Việt.
Hiện, thư pháp Việt đang tồn tại cả hai dòng: thư pháp Hán – Nôm và thư pháp chữ Việt. Có thể nhận thấy xu hướng chơi thư pháp đang trở lại khá sôi nổi trong đời sống văn hóa hiện nay. Nhiều câu lạc bộ thư pháp ra đời lôi cuốn không ít tầng lớp, lứa tuổi. Từ những liễn đối, những chữ đại tự cầu phúc, lộc, thọ, cầu bình an, may mắn đến những ý đẹp, lời hay, cả những châm ngôn, triết ngôn, những tình thơ bất hủ cũng đang được nghệ thuật thư pháp làm cho lay động, sâu sắc hơn. Lặng lẽ và bền bỉ, thú chơi văn hóa này đang thấm vào cuộc sống và tâm hồn con người, góp phần dựng xây đời sống văn hóa Việt, lưu giữ truyền thống văn hóa Việt.
Xã hội ngày càng phát triển, những thú chơi dường như cũng đa dạng hơn, nhưng không thể phủ nhận, xu hướng trở về với những nét đẹp văn hóa cổ truyền đang hồi sinh mạnh mẽ. Âu cũng là sự vận động tất yếu của một nền văn hiến đã tồn tại hàng ngàn năm. Tìm đến với nghệ thuật thư pháp vào mỗi dịp Tết đến xuân về là ta đang góp phần lưu giữ truyền thống, tôn vinh truyền thống, cũng là cách để phong vị ngày xuân trong mỗi gia đình thêm đậm đà, sang trọng.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét